Hiển thị các bài đăng có nhãn Học tiếng Anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học tiếng Anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Khi bạn nhận được sự giúp đỡ của người khác, bạn sẽ có vài cách nói lời cảm ơn. Tùy theo mối quan hệ của bạn với người đó là như thế nào thì bạn sẽ dùng cách cảm ơn cho hợp lý. Dưới đây bạn sẽ học 8 cách sử dụng lời cảm ơn nhé.




Nguồn: mecvietnam.com
Cách nói cảm ơn trong tiếng Anh

International Women's Day is celebrated each year on March eighth. Groups around the world use this day to honor the progress of women. They also use the day to call attention to the social, political and economic problems facing women and girls. Among the issues are forced marriage, sexual abuse, poverty and a lack of education.

The United Nations says one in five women worldwide will be the victim of a sexual assault in her lifetime. It says rape and domestic violence are major causes of disability and death among women age fifteen to forty four. More than one hundred thirty million females in Africa and other areas of the world have had their sexual organs cut for cultural reasons.

Secretary General Ban Ki-moon says the world's goals for peace, security, and sustainable development are at risk until women and girls are freed from poverty and injustice. More than one billion people in the world live in extreme poverty. And the United Nations says the majority are female.
National Woman's Day was first celebrated in the United States on February twenty eighth, nineteen hundred and nine. The next year a women's rights leader from Germany suggested the idea of an international celebration. Clara Zetkin said women around the world should set aside one day every year to protest oppression and inequality. She suggested the idea at an International Conference of Working Women in Copenhagen.

More than one million people attended events in Austria, Denmark, Germany and Switzerland during the first International Women's Day. It took place in nineteen eleven.

In nineteen fourteen the date for the observance was changed to March eighth in honor of an historic protest for women's rights. Fifteen thousand women marched in New York City on March eighth nineteen hundred and eight. They marched to demand better pay, shorter work hours and the right to vote

International Women's Day is a public holiday in several countries. They include China, Russia, Bulgaria and Vietnam.

Năm nay là kỷ niệm 100 năm ngày khởi xướng ngày Phụ nữ Quốc tế năm, 1911-2011. Bạn sẽ xem video dưới đây về Ngày Quốc tế Phụ nữ 2010.

Bạn có thể đoán được câu trả lời cho những câu hỏi dưới đây không?

Question 1

What percentage of food in developing nations is produced by women?

a) 25-30%
b) 40-50%
c) 60-80%

Question 2

True or false? Women control $4 trillion dollars in worldwide assets

a) true
b) false

Question 3

In what percentage of households are women the breadwinners (main wage earners)?

a) 1 out of 2 households
b) 1 out of 3 households
c) 1 out of 4 households

Task 1

Bây giờ bạn hãy xem đoạn Video về Ngày Phụ nữ Quốc tế 2010, và kiểm tra xem bạn có trả lời đúng câu hỏi không nhé!




Theo Mec Việt Nam
Từ  Power ở đây vừa có nghĩa là sức mạnh, năng lực, vừa là tên gọi của một  phương pháp học tập ở bậc đại học do GS Robert Feldman (ĐH  Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn SV, đặc biệt là SV năm 1, cách  học tập có hiệu quả nhất.




Phương pháp Power bao gồm 5 yếu tố cơ bản:

1. Prepare (chuẩn bị sửa soạn):
Quá  trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu ở giảng đường khi SV  nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi, tranh luận với các bạn đồng học.  Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi SV chuẩn bị một cách tích cực các  điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như: đọc trước giáo trình, tìm  tài liệu có liên quan. Sự chuẩn bị tư liệu này càng trở nên hiệu quả hơn  khi đi liền với nó là một sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp cận  kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Với sự chuẩn bị tâm thế này,  SV có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến  nội dung sẽ được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái  “khung tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một cách có  hệ thống. Với cách chuẩn bị tích cực này, tri thức mà SV có được không  phải là một tri thức được truyền đạt một chiều từ phía người dạy mà còn  do chính SV tự tạo ra bằng cách chuẩn bị các điều kiện thực thể và tâm  thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức. Nói “học là quá trình hợp tác  giữa người dạy và người học” có nghĩa là như vậy.

2. Organize (tổ chức):
Sự  chuẩn bị nói trên sẽ được nâng cao hơn nữa khi SV bước vào giai đoạn  thứ hai, giai đoạn người SV biết tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập  của mình một cách có mục đích và hệ thống.

3. Work (làm việc):
Một  trong những sai lầm của việc học tập cũ là tách rời việc học tập ra  khỏi lao động trong khi lao động(làm việc) chính là một quá trình học  tập có hiệu quả nhất. Trong giai đoạn này SV phải biết cách làm việc một  cách có ý thức và có phương pháp ở trong lớp và trong phòng thí nghiệm,  thực hành. Các hình thưcs lao động trong môi trường đại học rất đa  dạng, phong phú: lắng nghe và ghi chép bài giảng, thuyết trình hoặc thảo  luận, truy cập thông tin, xử lí các dữ liệu, bài tập, thực tập các thí  nghiệm, tất cả đều đòi hỏi phải làm việc thật nghiêm túc, có hiệu quả.

4. Evaluate (đánh giá):
Ngoài  hệ thống đánh giá của nhà trường, SV còn phải biết tự đánh giá chính  bản thân mình cũng như sản phẩm do mình tạo ra trong quá trình học tập.  Chỉ có qua đánh giá một cách trung thực,SV mới biết mình đang đứng ở vị  trí, thứ bậc nào và cần phải làm thế nào để có thể cải thiện vị trí, thứ  bậc đó. Tự đánh giá cũng là một hình thức phản tỉnh để qua đó nâng cao  trình độ và ý thức học tập.

5. Rethink (suy nghĩ lại):
Khả  năng suy nghĩ lại này giúp SV luôn biết cách cải thiện điều kiện,  phương pháp và kết quả học tập của mình. Về bản chất, tư duy đại học  không phải là một thứ tư duy đơn tuyển, một chiều mà đó chính là hình  thức tư duy đa tuyển, phức hợp đòi hỏi người học, người dạy, người  nghiên cứu phải có tính sáng tạo cao, luôn biết cachs lạt ngược vấn đề  theo một cách khác, soi sáng vấn đề từ những khía cạnh chưa ai đề cập  đến. Khả năng suy nghĩ lại này cũng gắn liền với khả năng làm lại (redo)  và tái tạo quá trình học tập trên can bản nhận thức mới đối với vấn đề  và kết quả đã đặt ra.
Cuối  cùng, chữ R của giai đoạn thứ năm này cũng có nghĩa là Recreate (giải  lao, giải trí, tiêu khiển), một hoạt động cũng quan trọng không kém so  với các hoạt động học tập chính khóa. Ở đây cần nhớ rằng ai không biết  cách nghỉ ngơi, giải trí, tiêu khiển thì người đó cũng không biết cách  học tập hoặc học tập không có kết quả cao.

Theo Tuổi trẻ
Cách học tiếng Anh theo Phương pháp POWER của GS Robert Feldman (ĐH  Massachusetts)
Học tiếng Anh, vui nhất là được gặp người nước ngoài và chỉ đường cho họ! Có bao giờ bạn thấy trống ngực đánh thình thịch, miệng câm như hến và bối rối chỉ biết đánh vần như ghép từ hoặc dùng tay ra dấu mà thôi?!
Ai mới học cũng zậy mà ^^" 


Lời chỉ dẫn
 
Go straight on Elm Street.
Đi thẳng đường Elm.
Go along Elm Street.
Đi thẳng đường Elm.
Go down Elm Street.
Đi xuống đường Elm.
Follow Elm Street for 200 metres.
Đi thẳng đường Elm 200 mét.
Follow Elm Street until you get to the church.
Đi theo đường Elm cho đến khi bạn nhìn thấy nhà thờ.
Turn left into Oxford Street.
Rẽ trái vào đường Oxford.
Turn right into Oxford Street.
Rẽ phải vào đường Oxford.
Take the first turning on the right.
Rẽ phải ở ngã rẽ đầu tiên.
Go past the pet shop.
Đi qua cửa hàng bán thú nuôi.
Go along the river.
Đi dọc bờ sông.
Go over the bridge.
Đi qua cầu.
Go through the park.
Băng qua công viên.
Go towards the church.
Đi theo hướng đến nhà thờ.
Go up the hill.
Đi lên dốc.
Go down the hill.
Đi xuống dốc.
Cross Oxford Street.
Băng qua đường Oxford.
The bookshop is opposite the church.
Hiệu sách ở đối diện nhà thờ.
The bookshop is between the church and the pet shop.
Hiệu sách nằm giữa nhà thờ và cửa hàng bán thú nuôi.
The bookshop is on/at the corner.
Hiệu sách nằm ở góc phố.
The bookshop is in front of the church.
Hiệu sách nằm trước nhà thờ.
The bookshop is behind the church.
Hiệu sách nằm sau nhà thờ.
The bookshop is next to the church.
Hiệu sách nằm sát cạnh nhà thờ.
The bookshop is beside the church.
Hiệu sách nằm cạnh nhà thờ.
The bookshop is near the church.
Hiệu sách nằm gần nhà thờ.
car park
parking lot
Bãi đỗ xe
crossroads
Đường giao nhau
roundabout
Đường vòng
traffic lights
Đèn giao thông

Một số đoạn hội thoại mẫu về cách hỏi và chỉ đường:

Hội thoại 1:
Bạn: Do you know where is the central bus station?
Anh có biết trạm xe buýt trung tâm ở đâu không?
A: Yes. Turn right at the next traffic light. It’s near the post office.
Có chứ. Anh đi đến cột đèn giao thông tiếp theo thì rẽ phải. Trạm xe buýt ở gần bưu điện đấy

Hội thoại 2:
Bạn: How can I get to the train station?
Làm thế nào để tôi có thể đi đến ga tàu hỏa?
A: Take this road until you see the shopping center. The train station is across from the park.
Anh đi theo đường này cho đến khi nhìn thấy khu mua sắm. Ga tàu nằm ở bên kia đường của công viên.

Hội thoại 3:
Bạn: Where is the Supermarket?
Xin hỏi siêu thị nằm ở đâu?
A: It is in the mall.
Nó nằm trong khu mua sắm.
Bạn: How far is it from here?
Nó ở cách đây bao xa?
A: About 5 minutes drive. At the next junction make a U-turn on the one-way street. The mall will be on your left.
Khoảng 5 phút lái xe. Ở chỗ đường giao nhau tiếp theo anh quay đầu lại vào làn đường một chiều. Khu mua sắm sẽ nằm ở bên trái.

Hội thoại 4:
Bạn: Is this the direction to the beach?
Xin hỏi đây có phải đường ra bãi biển không?
A: You are going in the wrong direction. Turn around. Go back that way you came and turn left at the lights.
Các bạn đang đi sai hướng rồi. Quay xe và đi lại con đường mà các bạn vừa đi, đến cột đèn giao thông thì rẽ trái.

Hội thoại 5:
Bạn: Is there a pharmacy nearby?
Xin hỏi có hiệu thuốc nào gần đây không?
A: Yes, it is just up the walkway, after the stop sign on your right.
Có, nó nằm ngay trên tuyến phố đi bộ, sau biển báo dừng, ở bên tay phải.
Bạn: Is there a Church nearby?
Xin hỏi có nhà thờ nào ở gần đây không?
A: Yes, drive straight, through the roundabout. You will see a Church  along the boulevard. You can park in the adjacent parking lot.
Có, anh lái xe đi thẳng. đi qua đường vòng. Bạn sẽ thấy nhà thờ nằm dọc trên đại lộ. Anh có thể đỗ xe ở bãi đỗ ngay cạnh đó.

Hội thoại 6:
Bạn: Where is the museum?
Viện bảo tàng nằm ở đâu?
A: Next to the church on the boardwalk.
Nó ở cạnh nhà thờ trên đường dọc theo bãi biển.

Hội thoại 7:
Bạn: How can I get to the airport from here?
Từ đây làm thế nào để tôi có thể ra đến sân bay?
A: To get there, take the freeway north. Turn off at the 3rd exit. You will see signs from there.
Từ đây anh đi theo đường cao tốc phía Bắc, dừng lại ở ngã rẽ số 3. Anh sẽ thấy biển chỉ dẫn từ đó.

Hội thoại 8:
Bạn: What is the fastest way to get to the hospital?
Đường nhanh nhất đến bệnh viện là đường nào?
A: Drive south on highway. Leave the highway at the 2nd exit. From there, follow the signs at every traffic light.
Đi về phía Nam trên đường quốc lộ. Rẽ khỏi đường quốc lộ ở ngã rẽ thứ  2. Từ đây, đi theo các biển chỉ dẫn ở mỗi cột đèn giao thông.

Nguồn từ LuyenDich.com

 Cách hỏi và chỉ đường bằng tiếng Anh đơn giản
Khi nói, chúng ta thường sử dụng từ viết tắt. Chúng ta thường làm ngắn gọn từ khi viết tin nhắn (SMS). Dưới đây là một số chỉ dẫn hữu ích về một số các từ viết tắt thông dụng nhất.


Văn Nói
gonna = is / am going to (do something)
"I'm gonna call him now." - Tôi định gọi anh ấy bây giờ
wanna = want to
"I wanna speak to you." - Tôi muốn nói chuyện với bạn
gotta = has / have got to (or have got)
"I gotta go!" - Tôi phải đi
innit = isn't it
"It's cold, innit?" - Trời lạnh có phải không?
ain't = isn't / haven't / hasn't
"He ain't finished yet." - Anh ấy vẫn chưa làm xong.
"I ain't seen him today." -Tôi vẫn chưa gặp anh ấy hôm nay.
ya = you
"Do ya know what I mean?" Bạn có hiểu tôi nói gì không?
lemme = let me
"Lemme see … tomorrow's a good time." - Để tôi xem nào ... ngày mai thì tốt đấy.
whadd'ya = what do you …
"Whadd'ya mean, you don't want to watch the game?" - Ý bạn là sao, bạn không muốn xem trận đấu à?
dunno = don't / doesn't know
"I dunno. Whadd'ya think?" - Tôi không biết. Bạn nghĩ sao?

Tin nhắn và internet
Số
2 = to / two
4 = for / four
8 = ate / eight
Letters
U = you
C = see
B = be
CU L8r = see you later
msg - message
pls = please
cld = could
gd = good
vgd = very good
abt = about
ths = this
asap = as soon as possible
tks = thanks
txt = text
LOL = lots of love / laugh out loud
x = a kiss!

Theo MEC Việt Nam 

Cách sử dụng từ viết tắt thông dụng trong tiếng Anh
Trong tiếng Anh, từ "like" rất linh hoạt và có rất nhiều cách sử dụng. Bạn có phân biệt được ý của từ "like" khi chúng được sử dụng trong nhiều loại câu hỏi khác nhau không?


Hãy làm bài tập điền câu trả lời cho câu hỏi dưới đây. Bạn nhớ chỉ điền chữ cái a, b, c, d,... chứ không viết lại toàn bộ câu trả lời vào chỗ trống nhé.

a - Much better, the operation was a success.
b - Playing cricket, rugby and girls.
c - No, he’s usually very easy-going.
d - A hamburger, please.
e - Great. They enjoyed their time there.
f - It’s a beautiful painting of a sunset.
g - She’s a stunner.
h - Very nice. A day for the beach, I’d say.
i - Both sweet and sour. I like it.
j - He’s about 6.9 m tall. Very cute.

  • 1 - What does Arthur look like?

  • 2 - What does Marc-Lee like?

  • 3 - What would you like?

  • 4 - How is Marcio?

  • 5 - What’s Nasreen like?

  • 6 - What was it like?

  • 7 - What does it look like?

  • 8 - What’s the weather like?

  • 9 - What’s it like?

  • 10 - Is he always like this?





Nguồn từ MEC Việt Nam

Cách sử dụng khác nhau của từ 'like'
Cách nói hỏi giờ trong tiếng Anh như thế nào?

Cách nói hỏi giờ trong tiếng Anh như thế nào?


Trước hết bạn cần biết cách hỏi giờ:
what time is it now?
what's the time ?
do you have the time?
đều có nghĩa là "Mấy giờ rồi?"

Ngoài ra bạn cũng có thể hỏi:
can you tell me the time, please?
do you know what time it is?
("Làm ơn cho hỏi mấy giờ rồi?")

Tiếp theo, chúng ta sẽ nói đến cách trả lời trực tiếp và trả lời gián tiếp, như trong bảng sau:


Trực tiếp Gián tiếp
Giờ hơn one oh three 1 : 03 three past one
three after one
five ten 5 : 10 ten past five
ten after five
seven fifteen 7 : 15 a quarter past seven
a quarter after seven
ten thirty 10 : 30 half past ten
Giờ kém ten fifty-five 10 : 55 five to eleven **
eight forty-five 8 : 45 a quarter to nine

** Giờ kém: 10 : 55 thì Phút = 60-55=5 và Giờ =10+1=11
Hay ta có thể nghĩ là "còn 5phút nữa tới 11h" nên 10 : 55 được đọc "five to eleven"
12 : 00 It's twelve
hoặc It's noon
hoặc It's midnight
PM là từ Latin viết tắt của Post Meridiem
AM : Ante Meridiem

Một số động từ bổ sung:
still up? (vẫn thức à? /ngủ chưa?)
it's not early (giờ không còn sớm nữa)
to have an early night (ngủ sớm) # to stay up late (thức khuya)
to get sleep (đi ngủ) # to wake up = to get up (thức dậy)

Bạn thấy cách hỏi, nói giờ trong tiếng Anh như thế nào? Khá đơn giản phải không! Nhưng nên thực hành thường xuyên nhé!
Body language - Ngôn ngữ cơ thể

Một phần quan trọng của giao tiếp phụ thuộc vào khả năng nhận biết ngôn ngữ cơ thể của người khác. Khi chúng ta mới học một ngôn ngữ mới, chúng ta thường tập trung quá nhiều vào ngôn từ họ đang nói mà quên không hiểu những động tác và cử chỉ cơ thể.

Bài test này giúp bạn nhận biết liệu bạn có biểu hiện đúng hay nhận thức đúng những diễn đạt ngôn ngữ cơ thể không.
.



Click vào đây để test

Sự khác nhau giữa "house" và "home"
 
Home: [trừu tượng] nhà ở, gia đình, tổ ấm, quê hương...

Sit down and make yourself at home=Xin ngồi và tự nhiên như ở nhà

Home away from home=Một nơi ta coi thân mật ấm cúng như ở nhà

Take home=Mang lương/đồ ăn về nhà

Home sweet home=Căn nhà êm ấm

Hearth=Phần nhà quanh lò sưởi. Hearth and home=Hai tiếng chỉ sự ấm cúng trong nhà và trong gia đình. Hay dùng chung với nhau trong văn thơ. The joys of hearth and home=Niềm vui trong gia đình.

Home is where the heart is=Gia đình là nơi lòng ta cảm thấy ấm cúng

[Xem thêm: Random House Dictionary of Popular Proverbs and Sayings, by Gregory Y. Titelman (1996).]

Home còn chỉ nhà dưỡng lão: I never want to put my mother in a home=Tôi không muốn để má tôi vào ở nursing home-viện dưỡng lão

Home economics=Môn tề gia nội trợ dạy khâu vá, nấu ăn

On the home front=Ở hậu phương. The president also praised the families on the home front=Tổng thống cũng ngợi khen các gia đình binh sĩ ở mặt trận hậu phương

The Home Office=Tiếng dùng bên Anh chỉ Bộ Nội Vụ (bên Mỹ: Department of the Interior). Bộ trưởng Nội Vụ bên Anh: The Home Secretary, hay: Secretary of State for Home Affairs.

Home-grown vegetables=Rau trồng trong vườn ở nhà

Home page=Trang nhà (=Main page)

Home-school=Dạy học con cái ở nhà, chứ không gửi chúng tới trường

On my way home=Trên đường về nhà

To see (take) someone home=Đưa ai về nhà

Anybody home?=Có ai có nhà không?

Home folks=Cha mẹ. This weekend I’m driving to see my folks=Cuối tuần này tôi lái xe về thăm gia đình.

Homecoming event=Đấu banh và khiêu vũ hàng năm ở trường đại học.
Nguồn: VOA
Nghe nhạc, xem  phim, chat bằng tiếng Anh đã giúp Phạm Thị Hoàng Giang dễ dàng đạt IELTS  8.0 trong kỳ thi IELTS tại Hội đồng Anh vừa qua. Làm thế nào để đạt  được kết quả này, Giang đã chia sẻ bí quyết học tiếng Anh của mình.

    
Phạm Thị Hoàng Giang (trái) và cô giáo của mình.

Học mà chơi, chơi mà học
Tiếng Anh cũng như những môn học khác, nếu không tìm được hứng thú  thì sẽ không hiệu quả. Áp dụng nguyên tắc học trên, ngay từ khi vào học  lớp 10 Giang đã tập cho mình một thói quen thường xuyên nghe nhạc và xem  phim trên tivi bằng tiếng Anh. Điều này giúp Giang không chỉ luyện tập  được từ vựng, mà còn nâng cao khả năng nghe tiếng Anh. Khi theo dõi các  các bộ phim trên kênh HBO hoặc Cinemax, Giang thường tập trung theo dõi  nội dung phim, nhờ vậy Giang vừa trau dồi được từ mới, vừa học được cách  phát âm chuẩn của người bản xứ, và cách suy nghĩ bằng tiếng Anh.
Bên cạnh việc nghe nhạc và xem ti vi bằng tiếng Anh,  theo Giang, để học tốt tiếng Anh, các bạn cần rèn luyện cho mình thói  quen dành thời gian học tiếng Anh thường xuyên. Với Giang, cô bạn thường  dành 2 tiếng mỗi ngày để học tiếng Anh.
“Người học cần nắm chắc ngữ pháp và có tinh thần tự giác  học. Tự tin khi nói chuyện cùng giáo viên hoặc người bản xứ cũng là một  trong những nguyên tắc giúp người học nâng cao khả năng tiếng Anh.  Ngoài ra, để có nhiều cơ hội được thực hành nhiều hơn, các bạn nên tận  dụng tham gia các cuộc thi bằng tiếng Anh hay tìm bạn cùng học để có thể  trao đổi thảo luận với nhau được nhiều hơn”, Giang cho biết.
Một kinh nghiệm nữa giúp bạn học tốt tiếng Anh đó là học hỏi những  người đi trước đã thành công. Khi đến với GLN IELTS Reviews Center,  Giang đã rất may mắn khi được cô giáo của mình - một người cũng đã từng  tham gia kỳ thi IELTS và đạt 8.5 - hướng dẫn và chia sẻ rất tận tình  phương pháp học cùng các cách làm bài thi để có thể đạt được điểm cao.  Giang vui vẻ nói: “Mình rất bất ngờ trước kết quả thi vừa qua. Bí quyết  của mình đơn giản là lắng nghe, học thuộc và áp dụng những phương pháp  mà cô giáo truyền lại”.
Với kết quả xuất sắc vừa qua, hiện tại Giang đang nghiên cứu một số  trường đại học ở Úc để nộp hồ sơ cho học kì năm 2011. Tuy nhiên, là sinh  viên năm nhất Trường đại học Kinh tế - ĐH Quốc gia Hà Nội, nên Giang  cũng đang cân nhắc để lựa chọn thêm phương án lựa chọn thứ hai là hoàn  thành chương trình đại học tại Việt Nam, và học tiếp thạc sĩ ở nước  ngoài vì vẫn còn đang thích môi trường hiện tại của mình.
Các “bí kíp” làm bài thi IELTS Trong kỳ thi IELST, phần lớn thí sinh thường ngồi im lặng trước giờ  thi, làm cho không khí trở nên khá nặng nề. Theo Giang, các bạn cần giữ  cho mình một tâm trạng thật bình tĩnh khi bước vào kỳ thi. Để giữ được  tâm trạng này, các bạn nên mang theo máy nghe nhạc, hoặc trò chuyện,  trao đổi với những thí sinh đi thi cùng mình, như thế sẽ bớt áp lực vào  phòng thi hơn.
Được biết trong bài thi IELTS vừa qua, Giang đã đạt điểm 9 trong phần  thi Listening (Nghe) - số điểm tuyệt đối trong bài thi IELTS. Cô bạn  chia sẻ, khi làm bài thi Listening, điều quan trọng là các bạn phải  tránh được “bẫy” của bài. Thông thường, các thí sinh chỉ chú ý khi nghe  những từ được đọc rõ hay đọc chậm hơn so với bình thường, nhưng đây lại  chính là cái bẫy của phần thi nghe bởi đáp án lại không nằm ở những từ  này mà nằm rải rác ở cả bài.
Với phần thi Reading (Đọc), đây là phần rất được các thầy cô chú  trọng. Khi làm phần này, các bạn nên rà soát kỹ lại các câu, kể cả những  câu đã làm trước đó, vì có thể, đáp án của những câu này lại nằm ở cuối  bài. Ngoài ra, trong các bài thi IELTS, số lượng từ mới rất nhiều, do  vậy, các bạn không nên quá chú trọng phần từ mới mà nên quan tâm đến câu  hỏi của bài nhiều hơn. Bên cạnh đó, bạn nên dựa vào chủ đề để đoán  nghĩa các từ trong bài.
Đối với phần thi Writing (Viết), để đạt được 6 hoặc 6.5 là điều khá  dễ dàng. Thế nhưng để được điểm 7 hoặc từ 7 trở lên đòi hỏi bạn cần phải  có một vốn từ vựng phong phú. Ngoài ra, khi viết văn, bạn cần phải viết  theo một cấu trúc logic chặt chẽ giữa các đoạn, tránh để rời rạc, như  vậy bạn sẽ dễ dàng ghi điểm hơn.
Về phần thi Speaking (Nói), các bạn nên thật bình tĩnh. Khác với các  thầy cô trên lớp, giám khảo sẽ không biểu lộ cảm xúc khi nghe bạn nói vì  thế nhiều người có thể cảm thấy hơi bị hẫng. Tuy nhiên, bạn cần bình  tĩnh và nên tự điều chỉnh lại giọng nói cũng như cách phát âm của mình  nếu bị sai. Một điều quan trọng hơn là không nên để khoảng trống trong  bài thi Nói của mình, đồng thời nên kéo dài phần trả lời của mình, như  thế bạn sẽ không phải trả lời quá nhiều câu hỏi của giám khảo.
Đó là những bí kíp đã giúp Giang đạt được 8.0 IELTS. Cô bạn hy vọng  rằng những “bí kíp” này cũng sẽ giúp ích cho các bạn đang học tiếng Anh  và chuẩn bị bước vào một kỳ thi IELTS khó khăn phía trước.
An Thiên- Dantri.com.vn


Download từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free
Giới Thiệu Về Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free



§ Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free là phần mềm từ điển chuyên ngành Anh-Việt quy mô nhất và chuyên nghiệp nhất hiện có trên thị trường.
§ Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free bao gồm 400.000 từ và cụm từ chuyên ngành kỹ thuật (15 chuyên ngành chính: cơ khí, ôtô, điện, điện lạnh, điện tử, tin học, xây dựng, đo lường, điều khiển, hóa học, vật liệu...) và 150.000 từ và cụm từ chuyên ngành thương mại.
§ Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free bao gồm 4 từ điển chuyên ngành chính là:
1-Từ điển Kỹ Thuật Anh-Việt
2-Từ điển Kỹ Thuật Việt-Anh
3-Từ điển Thương Mại Anh-Việt
4- Từ điển Thương Mại Việt-Anh
§ Bên cạnh 4 từ điển chuyên ngành lớn, Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free còn cung cấp thêm khả năng tra cứu rất giá trị sau với kết nối Internet:
1-Tra Từ điển Thông Dụng Anh-Việt, Việt-Anh.
2- Tra cứu Hình Ảnh Liên Quan đến Từ trên Internet.
3- Tra cứu Văn Bản Liên Quan đến Từ trên Internet.
4- Tra cứu Từ trong TĐ Bách Khoa Toàn Thư.
5- Tra cứu Định Nghĩa tiếng Anh của Từ.
§ Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free có hai chế độ tra cứu tiện lợi: (1) Standard Mode - Tra cứu thông thường và (2) Smart Mode - Tra cứu thông minh, tìm được cả từ trong danh sách từ và trong cụm từ của nhiều từ điển cùng một lúc.
§ Bạn có thể tìm kiếm từ được chọn trên vùng hiển thị kết quả bằng cách bôi đen từ đó và ấn Ctrl + G. Khi đó Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free sẽ tìm kiếm trong tất cả các từ điển thuộc danh sách đã chọn.
§ Khả năng tự đọc và phân tích từ thích hợp trong clipboard để giúp người dùng tra cứu với ít thao tác hơn.
§ Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free tích hợp công nghệ tiếng nói để có thể giúp bạn nghe được phát âm của từ đang tra cứu. Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free có thể phát âm cả 2 ngôn ngữ Anh, Việt.
§ Có khả năng phát âm cả từ và nội dung từ tra cứu.
§ Từ điển được chuẩn hóa với định dạng Unicode dành cho cả tiếng Anh, Việt và tiếng Anh
§ Với tiếng Việt thì người dùng còn có thể chuyển đổi được cả một số mã thông dụng như: TCVN, VNI, BKHCM...
§ Bộ gõ tiếng Việt của Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free có khả năng gõ chính xác, bỏ dấu đúng đắn, có thể bỏ dấu lại sau khi quay lại. Có khả năng tự động nhận dạng và chấp nhận cả kiểu gõ TELEX va VNI mà không cần phải chuyển đổi chế độ gõ.
§ Đặc biệt, bộ gõ của Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free không xung đột với các bộ gõ tiếng Việt đang chạy. Hơn thế nữa, Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free có thể kết hợp sử dụng với các bộ gõ khác nếu người dùng muốn. Việc kết hợp này hoàn toàn “tự nhiên”, bởi vậy người dùng không phải chuyển đổi hoặc làm bất cứ một điều gì với bộ gõ.
§ Giao diện của sản phẩm đẹp, dễ sử dụng.
§ Chế Độ Rút Gọn (Brief Mode): chế độ này là chế độ thu nhỏ của từ điển. Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free sẽ luôn nằm trên các ứng dụng khác với độ “trong suốt” hợp lý mà bạn có thể điều chỉnh được. Với chế độ rút gọn, người dùng có thể tra cứu nhanh chóng mà không phải chuyển đổi giữa các ứng dụng. Nó đặc biệt hữu dụng như tra cứu trong văn bản.
Bạn có thể tải Từ điển kinh tế kỹ thuật Prodic 2007 Free Tại Đây
Làm thế nào để học giỏi tiếng Anh?
Khó để có một câu trả lời hoàn chỉnh nhất, vì không phải tất cả người học tiếng Anh đều có hoàn cảnh giống nhau, tâm trạng giống nhau.
Vài lời khuyên hữu ích sau đây sẽ giúp cho bạn học tiếng Anh một cách dễ dàng hơn:

1. Tiếp xúc với ngoại ngữ càng nhiều càng tốt bằng cách kiên trì: Đọc sách, báo, viết thư , nghe nhạc, Xem phim, Tán chuyện bằng ngoại ngữ …

2. Tạo thói quen ghi chép các từ và cấu trúc ngữ pháp mới, cố gắng hiểu, ghép câu và ứng dụng.

3. Nhớ nghĩa từ mới bằng hình ảnh, bằng ngữ cảnh, hoặc theo chủ đề, theo nhóm từ loại …

4. Tạo phát âm, tập diễn tả ý tưởng theo cách người bản ngữ thể hiện, bắt chước và luyện tập.

5. Mỗi ngày tối thiểu dành cho ngoại ngữ 01 giờ để tự tổng kết, hệ thống lại kiến thức đã có.

6. Tập nghe hiểu: (từ mức độ đơn giản đến phức tạp) nghe và ghi chép lại các âm nghe được,
dung kiến thức ngữ pháp đoán phần âm không nghe rõ.

7. Tư duy ngôn ngữ trực tiếp theo từng tình huống, không dịch nghĩa trong khi đang giao tiếp, không sợ sai ngữ pháp, hãy tự tin, quan trọng là người nghe hiểu bạn.

8. Tập đọc hiểu trực tiếp: đọc kỹ đầu đề và ảnh minh hoạ (nếu có) để đoán nội dung, tìm hiểu các câu chủ đề và ý bổ trợ, cố gắng đoán từ mới theo ngữ cảnh.

9. Luyện viết theo cấu trúc ngữ pháp, form mẫu, chủ đề, nhờ giáo viên kiểm tra và chữa.

10. Kiên trì, nhiệt tình, yêu thích, xác định mục đích rõ ràng và không sợ sai.

Theo MEC Việt Nam
"Khi đi ăn chung, văn hóa người Mỹ là phần ai nấy trả?

Bạn phonglan1292@yahoo.com.vn hỏi:
"Khi đi ăn chung, văn hóa người Mỹ là phần ai nấy trả? "

Chào bạn phonglan1292@yahoo.com.vn !
Cám ơn bạn đã đặt câu hỏi !
Chúng ta đi ăn tiệm, khi ăn xong mọi người hay tranh nhau trả tiền. Vì vậy khi đi ăn với bạn bè trong túi bạn không có tiền cũng chẳng sao. Tuy vậy khi đi ăn tiệm với người Âu Mỹ thì bạn hãy coi chừng.
Người Âu Mỹ có thói quen trả tiền riêng, cho dù ngồi cùng bàn và cùng một hóa đơn tính tiền.

Đối thoại ví dụ:
M: That was a great meal. (Quả là một bữa ăn tuyệt vời.)
W: It was. Are we ready to have them bring the check? (Đúng vậy. Chúng ta đã ăn xong chưa để bảo họ mang hóa đơn đến ?)
M: I think so. (Rồi.)
W: How do you wanna handle the bill? (Anh muốn chia hóa đơn như thế nào?)
M: I had a little more to drink, so we will split the bill in half, and i will get the tip. (Tôi có uống nhiều hơn một chút, vì vậy chúng ta sẽ chia đôi hóa đơn và tôi sẽ cho tiền boa.)
W: Sounds fine to me. (Tôi thấy hay đấy.)

Chú thích:
meal nghĩa là bữa ăn, thường dùng để chỉ các bữa ăn trưa và tối. Khi nói That was a great meal ngoài Quả là một bữa ăn tuyệt vời còn ý nói Tôi no rồi, gọi tính tiền đi.
Sounds fine to me viết đầy đủ là It sounds fine to me. It là chỉ phương thức thanh toán. Chú ý Sounds phải có s.
Handle có nghĩa là xử lý. Nếu bạn nói The meal is on me tức là Để tôi lo cho, giống như chúng ta thường nói Bữa nay tôi mời mà.

Bạn nghĩ gì về tập quán này của người Âu Mỹ?
Cách đọc số đếm trong tiếng Anh như thế nào? 
 

o zero (AE) 6 six
o nought (BE) 7 seven
1 one 8 eight
2 two 9 nine
3 three 10 ten
4 four 11 eleven
5 five 12 twelve


Trong số đếm, số 0 tiếng Anh-Mỹ (American English AE) đọc là zero, tiếng Anh-Anh (British English BE) đọc là nought.


13 thirteen 30 thirty
14 fourteen 40 forty
15 fifteen 50 fifty
16 sixteen 60 sixty
17 seventeen 70 seventy
18 eighteen 80 eighty
19 nineteen 90 ninety
20 twenty 100 a hundred


100 được đọc là a hundred hay one hundred.
Do các con số từ 13 -> 19 tận cùng là -teen và các con số tròn chục từ 20 -> 90 tận cùng là -ty, nên bạn phải chú ý kĩ cách phát âm vì rất dễ nhầm lẫn. Thông thường, -teen được đọc nhấn mạnh hoặc kéo dài âm ee, còn -ty thì không (ví dụ: 13 thir'teen nhấn âm sau; 30 'thirty nhấn âm đầu).
Trong AE, -ty được đọc là /di/ chứ không phải là /ti/ , ngoại trừ hai số 50 và 60 vẫn đọc là /ti/ , nên ta dễ phân biệt -teen với -ty hơn.

Cách viết các con số từ 21 -> 29, ..., 91 -> 99 theo quy tắc là thêm vào dấu gạch nối, ví dụ: 21 twenty-one, 99 ninety-nine
1 000 one thousand hoặc a thousand
1 000 000 one million hoặc a million
1 000 000 000 one billion hoặc a billion
one billion trong AE = 1 000 000 000, trong BE = 1 000 000 000 000

AE BE
101 one hundred one one hundred and one
108 one hundred eight one hundred and eight
230 two hundred thirty two hundred and thirty
998 nine hundred ninety-eight nine hundred and ninety-eight
1 001 one thousand one one thousand and one
1 080 one thousand eighty one thousand and eighty
1 208 one thousand, two hundred eight one thousand, two hundred and eight
31 043 thirty-one thousand forty-three thirty-one thousand and forty-three
354 316 three hundred fifty-four thousand, three hundred sixteen three hundred and fifty-four thousand, three hundred and sixteen

Bạn thấy cách đọc các số tự nhiên như thế nào? Có gì thắc mắc, đừng ngại gửi mail cho tôi!
Trong bài kế tiếp, chúng ta sẽ nói về các con số thập phân (decimal numbers).




Cách học tiếng Anh hiệu quả cho người mới bắt đầu Bạn là beginner? hoặc là đã học tiếng Anh trong một thời gian dài nhưng khi nghe Tây nói thì ..."pó tay" ?
Phương pháp nào mang lại hiệu quả nhất?
Trả lời: tự học.
Chỉ có tự bản thân bạn nỗ lực đèn sách thì bạn mới giỏi được. Chứ không thể nào chờ đến khi học lên các lớp tiếng anh cao cấp rồi nói "một lèo" cho người ta biết mặt chơi (!) thì chỉ trong...viễn vông.(!)
Chúng ta nên bắt đầu với các bước cơ bản như sau:
Phát âm:
Phát âm cho thật chuẩn như trên trang http://www.uiowa.edu/~acadtech/phonetics/# (nhấp vào dòng "american english" trong trang đó)
và trang http://www.bbc.co.uk/worldservice/learningenglish/grammar/pron/sounds/. Ngoài ra bạn có thể xem thêm sách "Kỹ thuật luyện phát âm tiếng Anh- Mỹ Master Spoken English" của Nguyễn Quốc Hùng, M. A. soạn tiếng Việt (có VCD) hoặc sách "Luyện phát âm theo giọng Mỹ" của Nguyễn Thành Yến biên dịch (có CD ) .
Hãy nhớ: nói chậm và chuẩn.
Luyện nghe:
Trước hết nên đọc bài Cách hoc tiếng Anh cho người mới bắt đầu. Sau đó, bạn có thể chọn giáo trình luyện nghe phù hợp với mình hoặc có thể luyện nghe trên trang VOA Special English (nếu vào không được, xem hướng dẫn) và trang http://esl-lab.com/ - trang này giọng đọc rõ, thiết kế cấu trúc bài tập từng bước hợp lý.
Luyện nghe là một quá trình lâu dài đòi hỏi sự quyết tâm và kiên trì.
Bài tập:
Nếu như rèn luyện kỹ năng nghe được nhắc cùng VOA thì thực hành bài tập không thể không nhắc đến BBC.
Bên cạnh đó, bạn nên tham gia các forum http://www.englishtime.us/forum/ và http://www.english-test.net/forum/ hoặc http://www.thefreedictionary.com/ để trau dồi thêm Anh ngữ.
Và với những ai quan tâm lĩnh vực kinh tế thì luôn biết đến Từ điển ProDic.
Mọi thắc mắc về học tiếng Anh, tôi sẽ trả lời trong ngày cho các bạn, ở mục " Học Tiếng Anh ".
Cách xưng hô trong tiếng Anh

Trong giao tiếp tiếng Việt của chúng ta, cách xưng hô với nhau cũng là một điều cần phải thận trọng và cân nhắc, vậy còn trong tiếng Anh – ngôn ngữ thứ II, cách xưng hô sẽ như thế nào ?

Người học tiếng Anh thường cảm thấy khó khăn trong cách xưng hô với người khác. Rất nhiều người cảm thấy không thoải mái khi hỏi câu “What should I call you?”. Thậm chí cả người bản ngữ cũng thấy rắc rối. Rất nhiều cô gái không biết nên gọi mẹ của bạn trai như thế nào hay một số bậc cha mẹ cũng không biết xưng hô thế nào với thầy cô giáo của con mình.

Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu về cách xưng hô trong tiếng Anh như thế nào ?
First name      Surname / Family name / Last name
Lưu ý rằng:
Mr là viết tắt của "Mister"
Mrs      - - -        "Misses"
Miss    - - -     "Miss"
Ms      - -   -      "Mizz"

Tại sao câu hỏi “What should I call you?” lại khó trả lời đến vậy? Có thể bởi vì bạn đang mong muốn người khác cung cấp thêm thông tin về mối quan hệ, vị trí hoặc địa vị của họ với mình. Đó có thể bao gồm tuổi tác, nghề nghiệp, học vấn, tôn giáo và thậm chí cả tình trạng hôn nhân.

Một số người đòi hỏi sự trang trọng hơn những người khác. Cách xưng hô trong văn viết cũng có nhiều quy tắc và trang trọng hơn trong văn nói. 

Đặt câu hỏi
Nếu bạn không chắc chắn, cách tốt nhất là dùng kiểu xưng hô trang trọng hoặc, đơn giản hơn, là hỏi một trong những câu hỏi sau:
What should I call you?
What should I call your mum / the teacher / the manager?
Can I call you [tên] ?
Is it okay if I call you [tên mà bạn thấy những người khác đã dùng để gọi người đó] ?
What's your name? (sử dụng trong các tình huống thông thường như trong một bữa tiệc hoặc trong lớp học)
Trả lời câu hỏi
Bạn có thể không phải là người duy nhất còn băn khoăn về cách xưng hô. Sinh viên, đồng nghiệp hoặc người quen có thể cũng không biết cách xưng hô với bạn như thế nào. Nếu họ không chắc chắn, hoặc bạn muốn họ gọi mình như thế nào, thì có thể nói những câu như sau:
Please, call me [tên của bạn]
You can call me [biệt danh hoặc dạng viết tắt]

Cách xưng hô trang trọng 
Trong môi trường kinh doanh, nếu như không được nói trước thì bạn hãy sử dụng những chức danh mang tính trang trọng. Để thu hút sự chú ý, bạn có thể nói "Excuse me, Sir" hoặc "Pardon me, Madam/Ma'am.". Khi chào ai đó, bạn cũng có thể chào như: "Hello Sir" hoặc "Good morning, Madam/Ma'am."
Các từ như “Yes, Sir!” hoặc "Yes, Madam/Ma'am!" đôi khi cũng được sử dụng với hàm ý châm biếm. Ví dụ: khi đứa trẻ nói với cha mình rằng hãy gấp tờ báo lại, người cha có thể trả lời là “Yes, sir!” và cười. Bạn cũng có thể nghe thấy một bà mẹ nói với con gái của mình là "No Madam/Ma'am" đối với yêu cầu vô lý của cô bé.

Sau đây là một số chức danh người Anh thường dùng:
Sir ( dùng cho nam giới, đã trưởng thành, ở mọi lứa tuổi)
Ma'am (nữ giới đã trưởng thành - ở Bắc Mỹ)
Madam (nữ giới, đã trưởng thành)
Mr + họ (bất cứ nam giới nào)
Mrs + họ (người phụ nữ đã kết hôn, sử dụng tên nhà chồng)
Ms + họ (người phụ nữ đã hoặc chưa kết hôn; thường sử dụng trong kinh doanh)
Miss + họ (người phụ nữ chưa kết hôn)
Dr + họ (dùng với bác sĩ: Dr + tên)
Professor + họ (trong các trường học)

Khi bạn lần đầu tiên viết thư cho người khác, hãy sử dụng cách xưng hô trang trọng: Mr hoặc Ms + tên.
Nếu bạn không biết tên của người nhận, hãy sử dụng các chức danh mang tính chung chung như Sir hoặc Madam. Người nhận có thể đề tên và ký bằng tên đó. Từ những bức thư sau, bạn có thể sử dụng theo cách mà người nhận viết. Nếu họ xưng hô với bạn bằng tên và kí tên bằng tên, bạn cũng có thể làm tương tự vậy
Đôi khi bạn có những mối quan hệ thân thiết với những người đã quen được gọi là Sir, Madam, Mr hoặc Mrs (như giám đốc, người nổi tiếng, giáo sư hay người nào đó hơn tuổi bạn). Người này có thể sẽ cho phép bạn xưng hô theo tên, chứ không cần gọi theo cách trang trọng. Trong tiếng Anh ta sử dụng thuật cụm từ “on the first name basis” hoặc “on the first name terms” để miêu tả những mối quan hệ không trang trọng như mặc định. Bạn có thể nói: "Pete's mom and I are on a first name basis" hoặc "My teacher and I are on first name terms."

Cách xưng hô thân mật 
Cách xưng hô này thích hợp với các mối quan hệ thông thường và gần gũi
Tên (bạn bè, học sinh, sinh viên, trẻ em)
Miss/Mr + tên (sometimes used by dance or music teachers or childcare workers)
Cách xưng hô hàm chứa tình cảm
Khi gọi người yêu, bạn thân, thành viên trong gia đình hoặc trẻ em (thường là những người nhỏ tuổi hơn), người ta thường dùng các thuật ngữ biểu lộ tình cảm, tên con vật cưng ….như:
Honey (gọi đứa trẻ, người yêu, hoặc người ít tuổi hơn)
Dear
Sweetie
Love
Darling
Babe or Baby (với người yêu)
Pal (đây là từ mà ông thường dùng để gọi cháu, cha thường dùng để gọi con)
Buddy or Bud (mang t ính thân mật, suồng sã, dùng giữa bạn bè với nhau, người lớn với trẻ em; đôi khi mang nghĩa tiêu cực) 

Một số câu hỏi thường gặp:
-Tôi nên gọi cô giáo, phụ huynh của bạn hoặc mẹ của bạn trai như thế nào?
Cách xưng hô có thể thay đổi tùy thuộc vào tuổi tác và địa vị. Nếu không chắc chắn thì bạn hãy dùng cách trang trọng. Nếu như cách xưng hô của bạn là quá trang trọng thì người đó sẽ bảo bạn cách xưng hô khác, như gọi bằng tên chẳng hạn
-Tôi nên gọi thầy/cô giáo của mình như thế nào?
Lúc đầu, hãy xưng hô một cách trang trọng. Thầy/ cô giáo của bạn, qua phần giới thiệu, có thể sẽ nói cho bạn cách xưng hô thích hợp nhất. Nếu không, hãy cứ gọi một cách trang trọng cho tới khi họ bảo. Không nên sử dụng những từ chung chung như “teacher”, bởi cách gọi này nghe có vẻ như là bạn không biết tên thầy cô mình. ( bạn cũng không muốn bị gọi là “Student” đúng không?). Thậm chí nếu bạn có giáo viên dạy thay, hãy gọi bằng tên cụ thể. 
-Tôi nên gọi bạn học của mình như thế nào?
Phụ thuộc vào tuổi tác. Trong hầu hết các lớp học, học sinh, sinh viên thường gọi nhau bằng tên. Trong lớp có thể có một số người hơn tuổi. Để bày tỏ sự tôn trọng, hãy gọi những người này bằng họ ( trừ phi họ đề nghị bạn gọi họ bằng tên)
-Tôi nên gọi giáo viên của con như thế nào?
Hãy gọi họ bằng Mr hoặc Mrs: hãy gọi theo cách xưng hô của con bạn với giáo viên. Họ có thể sẽ yêu cầu bạn gọi họ bằng tên khi không có sự hiện diện của con bạn ở đó
-Tôi nên xưng hô như thế nào với những người trên mạng?
Phụ thuộc vào từng tình huống. Trên các mạng xã hội, bạn có thể gọi tên với giáo viên hoặc quản trị viên. Trong email, hãy xưng hô một cách trang trọng trong lần đầu tiên liên lạc. Nếu trong thư trả lời, họ ký bằng tên thì khi viết email lần sau bạn có thể xưng hô bằng tên với họ được. 
-Tôi nên gọi người quản lý ở trường học ra sao?
Xưng hô trang trọng cho tới khi người đó yêu cầu bạn điều khác
-Tôi nên xưng hô với người hàng xóm như thế nào?
Phụ thuộc vào tuổi tác. Những người hàng xóm thường gọi nhau bằng tên, mặc dù nó còn phụ thuộc vào từng người và tuổi tác của họ. Hãy tự giới thiệu bản thân, dùng tên của mình và xem cách người khác tự giới thiệu như thế nào. Nếu người hàng xóm lớn tuổi hơn bạn, trong lần gặp thứ hai, bạn cũng có thể hỏi câu: "Is it okay if I call you [ tên của người đó]?"
-Tôi nên gọi đồng nghiệp như thế nào?
Phụ thuộc vào từng lĩnh vực. Trong nhiều ngành, người ta sử dụng tên. Nếu bạn là nhân viên mới thì những người khác sẽ tự giới thiệu bản thân họ với bạn
-Với cấp trên, tôi nên xưng hô ra sao?
Ngôn ngữ trang trọng. Thậm chí nếu họ gọi bạn bằng tên thì bạn cũng nên gọi họ là Mr hoặc Mrs/Ms + họ cho đến khi họ yêu cầu bạn gọi khác đi
-Gọi người lái xe buýt/taxi như thế nào?
Hãy gọi một cách trang trọng. Bạn hãy bắt đầu bằng Sir hoặc Madam/Ma’am. Lưu ý không nói: “Excuse me “bus driver”.” vì đó là nghề nghiệp của họ chứ không phải chức danh.
-Tôi nên gọi bố/mẹ của bạn như thế nào?
Trang trọng. Những người ít tuổi hơn nên gọi Mr hoặc Mrs/Ms + họ. Nếu bạn của bạn nói bạn có thể gọi cha mẹ họ bằng tên, thì bạn vẫn cứ nên hỏi người lớn câu “Is it okay if I call you [tên]?”. Nếu hai bạn đều trưởng thành rồi thì vẫn có thể gọi bằng tên được (first name)
-Tôi nên xưng hô như thê nào với những người bồi bàn, hoặc chiêu đãi viên hàng không?
Trang trọng, hoặc dùng tên. Hãy gọi Sir hoặc Madam/Ma’am nếu bạn không biết tên của họ. Tuyệt đối không dùng “Hey waiter!" or "Hey waitress!” vì cách này bị coi là thiếu lịch sự và có thể bạn sẽ không nhận được sự phục vụ thân thiện. Nếu là khách hàng thường xuyên, hãy xây dựng mối quan hệ với nhân viên, và bạn có thể gọi tên của họ
-Tôi có thể gọi những nhân viên chăm sóc khách hàng như thế nào?I
Hãy xem biển tên của họ. Một số người thường đeo biển tên. Nếu trên đó ghi: "Hi, my name is Danny.""Thank you, Danny" Thì bạn hoàn toàn có thể gọi người đó bằng tên: hoặc "Danny, could you help me find the hamburgers?". Nếu không có biển tên hãy gọi họ là Sir hoặc Ma'am. 

Nguồn từ englishtime.us

Tên một số môn học bằng tiếng Anh

Giấy chứng nhận kết quả học tập: Academic Transcript
Hệ đào tạo: Type of training
Đào tạo chính quy:  Regular full time
Chuyên ngành: Field of study
Môn học: Subject
Đơn vị học trình: Credit
Báo cáo thực tập giữa khoá: Midterm Internship report
Kinh tế vi mô: Microeconomics
Kinh tế vĩ mô: Macroeconomics  
Kinh tế phát triển: Development economics
Kinh tế lượng: Econometrics
Kinh tế môi trường: Environmental economics
Lịch sử các học thuyết kinh tế: History of economic theories
Kinh tế công cộng Public Economics
Toán cao cấp: Calculus
Triết học Mác Lênin: Philosophy of marxism and Leninism
Kinh tế chính trị Mác Lênin: Political economics of marxism and leninism
Phương pháp nghiên cứu khoa học: Research and graduate study methodology
Chủ nghĩa xã hội khoa học: Scientific socialism
Pháp luật đại cương: Introduction to laws
Toán xác suất: Probability
Lịch sử đảng cộng sản Việt Nam: History of  Vietnamese communist party
Logic học: Logics
Tư tưởng Hồ Chí Minh: Ho Chi Minh 's thought
Quan hệ kinh tế quốc tế: Fundamentals of money and finance 
Quan hệ kinh tế quốc tế: International business relations
Nguyên lý thống kê kinh tế: Theory of economic statistics
Giao nhận vận tải: Transport and Freight Forwarding
Đầu tư quốc tế: Foreign Investment  
Thanh toán quốc tế: International Payment
Computer skill: Tin học đại cương
Bảo hiểm trong kinh doanh: Insurance in Biz


Cách học tiếng Anh hiệu quả cho người mới bắt đầu luyện nghe
  ...( phần trước )
Trong tiếng Anh không có âm nào giống âm I bắc hoặc I nam cả! Bằng chứng: ‘eat’ trong tiếng Anh thì hoàn toàn không phải là ‘ít’ trong tiếng Việt, đọc theo giọng bắc, và ‘it’ trong tiếng Anh hoàn toàn không phải là ‘ít’ trong tiếng Việt, đọc theo giọng nam! Vì thế, phải xóa bỏ những kinh nghiệm loại này, và phải nghe trực tiếp thôi!
- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe bằng chữ viết.
Nếu ta hỏi một em bé: cháu nghe bằng gì? Thì nó sẽ trả lời: Nghe bằng tai! Nếu ta bảo: “Cháu phải nghe bằng mắt cơ!” Chắc em bé tưởng ta … trêu cháu! Thế nhưng điều xảy ra cho nhiều người học tiếng nước ngoài là Nghe Bằng Mắt!
Thử nhìn lại xem. Trong giai đoạn đầu tiếp xúc với tiếng Anh, khi ta nghe một người nói: “I want a cup of coffee!”. Tức tốc, chúng ta thấy xuất hiện câu ấy dưới dạng chữ Viết trong trí mình, sau đó mình dịch câu ấy ra tiếng Việt, và ta HIỂU! Ta Nghe bằng MẮT, nếu câu ấy không xuất hiện bằng chữ viết trong đầu ta, ta không Thấy nó, thì ta … Điếc!
Sau này, khi ta có trình độ cao hơn, thì ta hiểu ngay lập tức chứ không cần phải suy nghĩ lâu. Thế nhưng tiến trình cũng chẳng khác nhau bao nhiêu, ta vẫn còn thấy chữ xuất hiện và dịch, cái khác biệt ấy là ta viết và dịch rất nhanh, nhưng từ một âm thanh phát ra cho đến khi ta hiểu thì cũng thông qua ba bước: viết, dịch, hiểu. Khi ta đi đến một trình độ nào đó, thì trong giao tiếp không có vấn đề gì cả, vì các câu rất ngắn, và ba bước đó được 'process' rất nhanh nên ta không bị trở ngại, nhưng khi ta nghe một bài dài, thì sẽ lòi ra ngay, vì sau hai, ba, bốn câu liên tục 'processor' trong đầu ta không còn đủ thì giờ để làm ba công việc đó.
Trong lúc nếu một người nói bằng tiếng Việt thì ta nghe và hiểu ngay, không phải viết và dịch (tại vì ngày xưa khi ta học tiếng Việt thì quá trình là nghe thì hiểu ngay, chứ không thông qua viết và dịch, vả lại, nếu muốn dịch, thì dịch ra ngôn ngữ nào?), và người nói có nhanh cách mấy thì cũng không thể nào vượt cái khả năng duy nhất của chúng ta là 'nghe bằng tai'.
Vì thế, một số sinh viên cảm thấy rằng mình tập nghe, và đã nghe được, nhưng nghe một vài câu thì phải bấm ‘stop’ để một thời gian chết - như computer ngưng mọi sự lại một tí để process khi nhận quá nhiều lệnh - rồi sau đó nghe tiếp; nhưng nếu nghe một diễn giả nói liên tục thì sau vài phút sẽ ‘điếc’. Từ đó, người sinh viên nói rằng mình ‘đã tới trần rồi, không thể nào tiến xa hơn nữa! Vì thế giới này không stop cho ta có giờ hiểu kịp’!’
Từ những nhận xét trên, một trong việc phải làm để nâng cao kỹ năng nghe, ấy xóa bỏ kinh nghiệm Nghe bằng Mắt, mà trở lại giai đoạn Nghe bằng Tai, (hầu hết các du học sinh ở nước ngoài, sau khi làm chủ một ngoại ngữ rồi từ trong nước, đều thấy ‘đau đớn và nhiêu khê’ lắm khi buộc phải bỏ thói quen nghe bằng mắt để trở lại với trạng thái tự nhiên là nghe bằng tai! Có người mất cả 6 tháng cho đến 1 năm mới tàm tạm vượt qua).
- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe bằng cấu trúc văn phạm.
Khi nghe ai nói, ta viết một câu vào đầu, và sửa cho đúng văn phạm, rồi mới dịch, và sau đó mới hiểu! Ví dụ. Ta nghe ‘iwanago’ thì viết trong đầu là ‘I want to go’, xong rồi mới dịch và hiểu; nếu chưa viết được như thế, thì iwanago là một âm thanh vô nghĩa.
Thế nhưng, nếu ta nghe lần đầu tiên một người nói một câu hằng ngày: igotago, ta không thể nào viết được thành câu được, và vì thế ta không hiểu. Bởi vì thực tế, câu này hoàn toàn sai văn phạm. Một câu đúng văn phạm phải là ‘I am going to go’ hoặc chí ít là ‘I have got to go’. Và như thế, đúng ra thì người nói, dù có nói tốc độ, cũng phải nói hoặc: I'm gona go; hoặc I’ve gota go (tiếng Anh không thể bỏ phụ âm), chứ không thể là I gotta go!
Thế nhưng trong thực tế cuộc sống người ta nói như thế, và hiểu rõ ràng, bất chấp mọi luật văn phạm. Văn phạm xuất phát từ ngôn ngữ sống, chứ không phải ngôn ngữ sống dựa trên luật văn phạm. Vì thế ta cũng phải biết nghe mà hiểu; còn cứ đem văn phạm ra mà tra thì ta sẽ khựng mãi. (Tôi đang nói về kỹ năng nghe, còn làm sao viết một bài cho người khác đọc thì lại là vấn đề khác!)
Tóm lại, trong phần chia sẻ này, tôi chỉ muốn nhắc với ACE rằng, hãy NGHE ĐIỀU NGƯỜI TA NÓI, CHỨ ĐỪNG NGHE ĐIỂU MÌNH MUỐN NGHE, và muốn được như vậy, thì HÃY NGHE BẰNG TAI, ĐỪNG NGHE BẰNG MẮT!
Hai bài trước đây, tôi nói về việc nghe ‘âm thanh’ của tiếng Anh, có nghĩa là làm sao phân biệt được các âm với nhau đến nỗi, dù không hiểu câu ấy nói gì, cũng có thể lặp lại đúng lời người ta nói ra (câu càng dài thì kỹ năng nghe của mình càng cao). Dĩ nhiên, có những người được ‘lỗ tai âm nhạc’ thiên phú nên phân biệt âm thanh rất nhanh. Ví dụ em Wendy Võ, một nhi đồng gốc Việt tại North Carolina (tên Việt Nam là Võ thị Ngọc Diễm). Năm nay em mới 8 tuổi mà đã nói được 11 thứ tiếng và soạn 45 bản nhạc.
Em có khả năng lặp lại một câu nói bằng bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới, mà không cần hiểu nghĩa. Thế nhưng thường thường, người ta phải mất nhiều thời gian để phân biệt các âm trong một ngôn ngữ mới, tuy nhiên TẤT CẢ MỌI NGƯỜI đều có khả năng này, bằng chứng là không một người nào trên trái đất (trừ người điếc) là không thể nghe và nói ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.
Nếu thời gian qua, các bạn đã lắng nghe âm thanh tiếng Anh thôi, thì đến nay, hẳn bạn đã nhận thấy rằng bỗng dưng có một số từ hay cụm từ mình nghe rõ ràng hơn xưa, đặc biệt là những con số và những danh từ riêng (của các nhân vật, các địa danh … ), và những từ mình đã quen thuộc. Có những đoạn bạn nghe một thời gian dài 5-15 phút (như trên TV) rồi bỗng thấy mình ‘hiểu’ cơ bản nội dung chương trình đó.
Như thế là các bạn đã nghe tiếng Anh. Nhưng dù muốn dù không, khi nghe một ngôn ngữ mà chỉ nghe âm thanh thôi, thì cũng giống như mình nghe nhạc (không lời), hay nghe tiếng gió, tiếng chim. Nếu chỉ nghe như thế thì không đáng bỏ công, vì ngôn ngữ cốt là để truyền tin (truyền một thông tin). Nếu ta không nắm được thông tin bên dưới âm thanh phát ra bằng tiếng Anh, thì kể như chúng ta không ‘nghe’ được tiếng Anh.
Vì thế, điều chúng ta cần học lại trước hết là nghe tiếng Anh (như một âm thanh thuần túy) để tiến đến bước sau cùng (mà bình thường người học ngoại ngữ xem là bước đầu tiên), ấy là ‘nghe’ tiếng Anh, theo nghĩa là ‘hiểu’ một thông tin.

Vì thế, sau hai bài để nói về cách nghe tiếng Anh, hôm nay tôi sẽ đi sâu hơn, ấy là ‘nghe’ tiếng Anh, theo nghĩa là nắm bắt nội dung của thông tin qua một chuỗi âm thanh bằng tiếng Anh.
Nghe tiếng Anh và "nghe" tiếng Anh
1. "Nghe" trong ngữ cảnh.
Tôi từng nhắc đi nhắc lại rằng đừng bao giờ tra từ điển khi mình nghe một diễn từ. Điều chủ yếu là nghe và lặp lại được những âm thanh đã nghe, rồi dần dần hiểu được một từ mới, khi nó xuất hiện trong nhiều nội dung khác nhau (nếu cả năm mình mới nghe từ đó một lần, có nghĩa là từ ấy không thông dụng và, trong giai đoạn này, ta không cần phải bận tâm đến nó!). Ví dụ: bạn nghe nhiều lần (âm thanh) ‘oubou’ mà không hiểu nghĩa, lần lượt trong những câu sau:
- To play the ‘oubou’ you need to have strong arms.
- The ‘oubou’ is considered one of the most difficult instruments to play.
- The ‘oubou’ is very difficult to play, because Karen must force air at very high pressure into the tiny double reed.
Lần đầu tiên, bạn chẳng biết âm ‘oubou’ chỉ cái gì, nhưng vì đi với play nên bạn đoán rằng đó là một cái gì để ‘chơi’. Như thế là đã ‘hiểu’ một cách tổng quát.
Lần 2, với từ ‘instrument’ bạn biết rằng đó là cái để ‘chơi’ nhưng không phải là trong thể thao, mà là trong âm nhạc.
Lần thứ ba, với cụm từ ‘must force air’ thì ta biết rằng đó là một nhạc cụ thổi hơi (khí nhạc) chứ không phải là nhạc cụ dây hay gõ… Và ta tạm hiểu như thế, mà không cần biết phải viết thế nào, cho đến khi đọc câu sau (chẳng hạn):
The oboe looks very similar to the clarinet, but sounds very different!
Thế là ta biết được rõ ràng đó là một nhạc khí tương tự như clarinet, và từ mà ta nghe là ‘oubou’ thì được viết là oboe (và ta đọc đúng ngay chứ không cần phải tra từ điển!)
Ps: Đây cũng là vấn đề ‘hiểu’ một từ. Chúng ta có cảm giác rằng nếu dịch được tiếng ấy ra là ta hiểu ngay, thế nhưng không có gì sai cho bằng. Nếu bạn học theo quá trình ngược, nghĩa là khởi sự biết từ ấy dưới dạng chữ viết, bạn sẽ tra từ điển và đọc là: kèn ô-boa! Bạn thấy hài lòng vì mình đã hiểu! Nhưng thực ra, nếu bạn không phải là một nhạc sĩ, thì ‘kèn ô-boa’ cũng chẳng thêm gì trong kiến thức bạn.
Ngay trong tiếng mẹ đẻ, ta có thể hài lòng với khái niệm mơ hồ về một từ, nhưng khi học ngoại ngữ thì ta có cái cảm giác sai lầm là phải trở lại với từ mẹ đẻ mới gọi là hiểu. Đối với tôi, nightingale là một loại chim có tiếng hót hay và thường hót vào ban đêm, còn có dịch ra là ‘sơn ca’ hay ‘họa mi’ thì cũng bằng thừa, vì tôi chưa bao giờ thấy và biết chim ‘sơn ca’ hay ‘họa mi’. Thậm chí không biết là có phải một loài chim hay hai loài chim khác nhau, vì cả hai từ đều được dịch là nightingale.
2. Nghe trong toàn bộ bối cảnh.
Ta thường nghĩ rằng: ‘một từ thì có một nghĩa nhất định’. Hoàn toàn sai.
- Thử tra từ ‘tiêu cực’ trong từ điển: negative. Như thế, ‘một cán bộ tiêu cực’ phải được dịch là ‘a negative cadre’! Nếu cụm từ tiếng Việt có ý nghĩa rõ ràng thì cụm từ dịch ra tiếng Anh (như trên) là hoàn toàn vô nghĩa! Nói cách khác: khi người Anh nói ‘negative’, thì người Việt hiểu là ‘tiêu cực’; nhưng khi người Việt nói ‘tiêu cực’, thì người Anh không thể hiểu là ‘negative.’
- Từ đó ta không thể nào hiểu đúng nghĩa một từ tiếng Anh nếu không đặt vào trong bối cảnh của nó. Ví dụ: nếu không để ý rằng câu chuyện xảy ra ở Anh hay ở Mỹ, thì khi nghe từ corn ta có thể hiểu sai: Ở Anh là lúa mì, và ở Mỹ là bắp!
Nếu thấy một người mở nắp bình xăng lên mà nói ‘Oh my! No more gas’ thì ta hiểu ngay rằng ‘gas’ chính là ‘xăng’, mặc dù trước đó mình có thể học: petrol hay gasoline mới là xăng, còn gas có nghĩa là khí đốt!
Mà nhiều khi bối cảnh rõ đến nỗi, người ta dùng một từ sai mình cũng hiểu đúng. Bạn cứ thử đến cây xăng, mở bình và nói: đổ cho tôi 30.000 dầu! Tôi cam đoan là người ta không thắc mắc gì cả và sẽ đổ XĂNG chứ không đổ DẦU vào xe bạn; cao lắm là trong 100 lần, thì một lần người ta nhắc lại: đổ xăng phải không? Bạn nói là Dầu người ta vẫn hiểu là Xăng. Và trong tiếng Anh cũng thế! Bạn sẽ hiểu một từ trong toàn bộ bối cảnh của nó.
3. Nghe với tất cả giai điệu của câu.
Trong phần đầu tôi nói rằng khi ‘nghe’ một câu, chủ yếu là làm sao nắm bắt được thông tin của chuỗi âm thanh ấy. Nói cách khác, ngôn ngữ có nhiệm vụ là truyền tin. Nhưng ngoài nhiệm vụ truyền tin thì còn một nhiệm vụ thứ hai, vô cùng quan trọng, ấy là nhiệm vụ truyền cảm (truyền một tình cảm). Một câu nói giao tiếp hằng ngày, luôn chuyển tải một phần của thất tình (= bảy tình cảm con người, chứ không phải là bị tình phụ đâu: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục).
Vì thế, cao độ, tốc độ, cường độ của câu nói, trường độ (độ dài) và dấu nhấn của một từ, có thể là điều mình cần phải ‘nghe’ cùng một lúc với các âm thanh được phát ra, thậm chí nghe âm điệu là chính. Nếu không thì ta hiểu sai, hoặc không hiểu gì cả. Đừng tưởng rằng khi ta nghe được từ ‘hate’ là ta hiểu ngay: ghét!
Vì dụ nghe một cô gái nói với một cậu trai: I hate you! Câu này không phải lúc nào cũng là ‘Em ghét anh'! Nói với một ngữ điệu nào đó thì có thể hiểu là: Tôi căm thù anh; hay Thôi, để tôi yên; hay Anh làm tôi bực mình; hoặc trái lại: Anh làm em cảm động quá; thậm chí: Em yêu anh quá chừng chừng!
Và cách nhấn câu cũng thế.
Ví dụ trong câu sau đây:
I didn’t say Paul stole my watch!
Nếu người nói nhấn mạnh các từ theo 7 khác nhau, mỗi cách nhấn một từ ( I - didn’t - say - Paul - stole - my - watch ) thì nghĩa sẽ khác nhau hoàn toàn:
I didn’t say Paul stole my watch! (Somebody else said that!)
I didn’t say Paul stole my watch! (No! I didn't act like that)
I didn’t say Paul stole my watch! (I disclosed by another way, but I didn't SAY) v.v

Khi học tiếng Việt, chúng ta nghe toàn bộ giai điệu, nên hiểu (và nói đúng) cao độ của một từ (nói đúng các dấu); thế nhưng khi một người nước ngoài học tiếng Việt, chúng ta phải khổ công giải thích cho họ lên giọng, xuống giọng, uốn giọng như thế nào để nói các dấu sắc, huyền, nặng, hỏi - ngã (do học nghe bằng tai nên người Nam và người Trung đồng hóa? trong khi người Bắc phân biệt chúng rõ ràng).
Vì thế, ngược lại, khi nghe tiếng Anh, cần phải nghe toàn bộ âm điệu để nắm bắt những tình cảm bên dưới câu nói.
Nghe với cả giai điệu, mình sẽ hiểu (và sau này sẽ dùng) những câu hay thành ngữ một cách chính xác như người bản ngữ, mà không cần phải dịch ra. Ví dụ: các câu ngắn như: Oh my God! Look at this! Hoặc No way! Hoặc You're joking/kidding! Với giọng điệu khác nhau, những câu nói hằng ngày đó có thể được hiểu là một tiếng khen hay chê, thán phục hay thất vọng, bằng lòng hay bất bình, chấp thuận hay từ chối!
Và từ đó, mình sẽ biết đối xử khi dùng tiếng Anh cho đúng nghĩa, chứ không chỉ đúng văn phạm. Ví dụ, khi tiếp một nhân vật quan trọng đến công ty bạn, bạn chuẩn bị nói một câu mời rất trân trọng và đúng nghi thức (formal): Would you please (to) take a seat? Thế nhưng bạn căng thẳng đến độ nói theo một âm điệu nào đó khiến người kia bực mình với bạn (mà bạn không hề biết), vì ngỡ rằng bạn diễu cợt người ta! Thế là hỏng cả một cuộc đàm phán.
Thà rằng bạn nói đơn sơ: Sit down! Với một giọng hòa nhã, thái độ tôn trọng, cử chỉ lịch thiệp và nụ cười nồng hậu, thì không ai lầm bạn! Trái lại, nói câu rất formal trên kia, với thái độ căng thẳng và giọng nói cộc cằn (vì sợ nói sai!), thì tai hại hơn nhiều.
4. Nghe với những gì một từ bao hàm.
Ngôn ngữ dùng để truyền tin, nhưng đồng thời cũng truyền cảm. Vì thế, mỗi danh từ vừa chỉ định một cái gì cụ thể (denotation), vừa kèm theo một tình cảm (connotation). Các từ this gentleman, this man, this guy, this rascal đều có một denotation như nhau là một người nam nào đó, nhưng connotation thì hoàn toàn khác; cũng như đối với một người nữ nào đó ta có thể dùng: a lady, a woman, a girl, a whore. Cùng một từ như communism chẳng hạn.
Khi học tiếng Anh, muốn nâng cao vốn từ vựng thì ta cố học nhiều từ đồng nghĩa (synonyms). Thế nhưng, không bao giờ có synonyms đích thực cả: chỉ tương đương trong denotation chứ connotation hoàn toàn khác (và cũng vì thế mà không bao giờ có hai từ hoàn toàn có nghĩa giống nhau ở hai ngôn ngữ khác nhau: mother/father không hoàn toàn là cha/mẹ - và mummy/daddy không hoàn toàn là ba/má; vì tình cảm đính kèm với các từ ấy khác hẳn giữa người Việt và người Anh). "Nghe" tiếng Anh, chính là biết nghe những connotations trong các thuật ngữ mình nghe.
Cho đến nay, tôi chỉ đề nghị các bạn nghe tin tức. Nhưng đó là giai đoạn nghe để quen với các âm. Trong giai đoạn ‘nghe’ tiếng Anh này, phải bớt giờ nghe tin tức mà xem phóng sự hoặc các phim truyện. Trên thế giới, các speakers của các chương trình tin tức buộc phải nói với thái độ neutral, nghĩa là không được dùng từ kèm theo tình cảm, và không được xử lý âm điệu để nói lên tình cảm của mình, vì thế họ nói rất dễ nghe, nhưng chỉ nghe tin tức thôi thì ta bỏ sót một phần khá chủ yếu trong tiếng Anh.
5. Nghe bằng trái tim để cảm điều họ cảm.
Và cuối cùng, đối với các bạn muốn đi thật sâu vào tiếng Anh, thì có thể phối hợp tất cả các kỹ năng để hiểu những điều tiềm tàng bên dưới ngôn ngữ giao tiếp; và điều này hướng đến cách nghe văn học. Mọi ngôn ngữ đều gợi lên một cái gì đó vượt lên trên từ ngữ. Vì thế, thi ca là một ngôn ngữ đặc biệt. Người Việt nào, dù thích hay không thích, vẫn cảm được ngôn ngữ của thi ca. Do đó, muốn nâng cao kỹ năng ‘nghe’ tiếng Anh của mình thì cần tập nghe những bài thơ.
Cho đến nay, khó tìm những bài thơ audio, nhưng không phải là không có. Tập nghe đọc thơ, dần dần, chúng ta sẽ cảm được cái tinh túy của tiếng Anh, từ đó ta cảm được vì sao cùng một tư tưởng mà diễn đạt cách này thì 'hay' hơn cách kia. Bấy giờ ta mới có quyền nói: tôi đã ‘nghe’ được tiếng Anh.
Ví dụ, khi muốn người ta cảm nhận tiếng gió mùa thu, thì Xuân Diệu đã sử dụng âm ‘r’ trong bài “Đây Mùa Thu Tới”:
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Tương tự như vậy Robert L. Stevenson viết trong The Wind
I saw you toss the kites on high
And blow the birds about the sky;
And all around I heard you pass,
Like ladies’ skirts across the grass..
Tác giả đã làm cho ta cảm được làn gió hiu hiu với các âm ‘r’ và ‘s’ nối tiếp và quyện vào nhau trong câu cuối, kèm với hình ảnh độc đáo của váy các mệnh phụ lướt qua trên cỏ (điều mà người Việt Nam hoàn toàn không có kinh nghiệm, vì mọi nét yêu kiều đều gắn liền với tà áo dài).

Kết luận:
Tôi đã bắt đầu gợi ý nghe tiếng Anh để rồi đi đến vấn đề ‘nghe’ tiếng Anh. Tuy nhiên, tôi lặp lại, những gì tôi nói chỉ là lý thuyết, và không có lý thuyết nào có thế làm cho bạn nghe được tiếng Anh. Cách duy nhất ấy là bạn phải tự mình nghe và rút ra những phương pháp thích hợp với xu hướng, kinh nghiệm và sở thích của mình.
Qua loạt bài này, tôi luôn đả phá cách nghe dựa trên viết và dịch. Thế nhưng, những điều tôi cho là trở ngại, nhiều khi lại có ích cho bạn, vì những thứ ấy không cản trở mà còn giúp bạn những cột móc để bám vào. Vâng. Nếu các bạn thấy việc đọc script, hoặc học từ vựng, hoặc viết thành câu và tra từ điển - như vẫn làm từ trước đến nay - giúp cho bạn nghe và hiểu nhanh hơn thì cứ sử dụng phương pháp của mình.
Tôi chỉ nhắc lại một điều này:
Tất cả những trợ giúp đó cũng giống như chiếc phao cho người tập bơi. Khi tập bơi, nhiều người cần có một cái phao để bám vào cho dễ nổi, từ đó bạo dạn xuống nước mà tập bơi. Và không ít người bơi giỏi đã khởi sự như thế. Bạn cũng vậy, có thể những cách nghe từ trước đến giờ (nhìn script - học từ - kiểm tra văn phạm) giúp bạn những cột chắc chắn để bám vào mà nghe.
Vậy thì xin nhớ rằng: Chiếc phao giúp cho bạn nổi, nhưng không giúp cho bạn biết bơi. Đến một giai đoạn nào đó, chính chiếc phao lại cản trở bạn và không cho bạn bơi thoải mái.
Hãy vứt cái phao sớm chừng nào hay chừng nấy, nếu không nó trở thành một trở ngại cho bạn khi bạn muốn bơi nhanh và xa.
Hãy vứt những chữ viết khi nghe nói, nhanh chừng nào hay chừng ấy, nếu không chúng sẽ cản trở bạn và bạn không bao giờ thực sự 'nghe' được tiếng Anh "


Bạn có cùng ý kiến như trên không?

Bài viết Cách học tiếng Anh cho người mới bắt đầu được trích từ http://www.englishtime.us/forum/
Luyện nghe VOA như thế nào?
Tại sao trong việc học tiếng Anh, luyện nghe lại quan trọng và khó khăn hơn hết?
 
VOA được đánh giá là một trong những trang học tiếng Anh hiệu quả nhất cho người học giọng Anh- Mỹ.
Người học có thể luyện nghe với VOA special english hoặc nomal english.
Thông thường, bạn vào trực tiếp (nhấp chuột vào) trang tiếng anh VOA. tuy nhiên, những trang như VOA, hay Facebook,... thường bị chặn bởi địa chỉ IP từ Việt Nam.

Do đó ta có thể vào gián tiếp bằng một trong những cách sau:


1.
Dùng http://search.mao2.com và gõ nhập đường link trang Web http://www.voaspecialenglish.com vào khung URL rồi nhấn nút "Go" để xem kết quả! 2.
Dùng http://www.guardster.com/free và gõ nhập đường link trang Web mà bạn muốn truy cập vào trong khung Address rồi nhấn nút I agree and wish to surf anonymously để vượt tường lửa!
3.
Dùng http://www.the-cloak.com/login.html và gõ nhập đường link trang Web mà bạn muốn truy cập vào trong khung Starting URL rồi nhấn nút Start surfing.
4.
(Tôi thường xài cách này)
Dùng phần mềm UltraSuft http://ultrareach.net Sau khi tải xong, chúng ta giải nén và chạy fle u9.95.exe để kích hoạt chương trình > nhấn thẻ Option > ngay lập tức cửa sổ Option hiện ra thì nhấn nút Proxy Settings > bạn click chọn Auto-Detect Proxy và nhấn nút OK để thiết lập tự động chương trình chạy ngầm. Hoặc sau khi kích hoạt chương trình bạn cũng có thể mở trình duyệt Internet Explorer http://www.ultrareach.com/search.htm rồi tiến hành copy đường link trang Web nào đó bị lỗi DNS và nhập vào trong khung Search của UltraSuft rồi nhấn nút Google Search.
5.
Dùng phần mềm Hide My IP 2009:
http://www.softpedia.com/get/Network-Too…
6.
Vào Control Panel mở biểu tượng Network Connections > chọn Properties > kéo thanh trượt để tìm nhấn chọn Internet Protocol [TCP/IP] rồi chọn Properties > chọn Use the following DNS server addresses > Tại ô khung Preferred DNS Server bạn gõ nhập 208.67.222.222 và ô khung Alternate DNS Server bạn tiếp tục gõ nhập 208.67.222.220 và cuối cùng nhấn nút OK để hoàn tất. Sau đó bạn có thể truy cập vào http://www.voaspecialenglish.com
7.
Đối với trình duyệt Firefox lướt Web không bị lỗi DNS thì chúng ta nhấp liên kết vào Add Exception > nhấn tiếp nút Add Exception rồi làm theo hướng dẫn để Firefox xác nhận là có thể truy cập bình thường. Hoặc người dùng cần cài đặt add-on Auto Proxy tại địa chỉ https://addons.mozilla.org/en-US/firefox…
Ngoài ra, nếu không thể xem được nội dung của một trang Web vì nhiều lý do như không có quyền xem, trang Web đã bị chặn hoặc bị xóa, hoặc thời gian Load quá chậm thì chúng ta hãy nhờ đến công cụ Recover Link của Firefox giúp.Trước tiên hãy vào http://www.4shared.com/file/24375986/ca9… để tải Recover Link rồi cài đặt vào Firefox. Tiếp theo mở menu View > Toolbars > chọn Customize…Trong cửa sổ hiện ra, chúng ta tìm đến icon có hình chiếc khóa, rồi kéo nó lên thanh công cụ, nhấn phím Done để kết thúc. Từ bây giờ, Firefox của chúng ta đã sẵn sàng mở bất kỳ trang Web nào. Nếu ta vào một trang Web mà nó báo lỗi Server not Found, ngay lập tức Recover Link sẽ hoạt động. Dưới thông báo của Firefox sẽ có một khung nhỏ để ta chọn phiên bản của trang này được lưu trữ trong Cache của những bộ máy tìm kiếm tốt nhất như: CoralCDN, Goole, Yahoo, MSN. Nếu gặp một trang Web cực kỳ chậm, do đường truyền yếu hoặc do trang Web đó có rất nhiều hình ảnh, chúng ta có thể tăng tốc Load trang Web đó bằng cách nhấn chuột trỏ phải lên trang Web, rồi chọn Resurrect this page…trang Web sẽ được mở với tốc độ nhanh hơn so với khi để nó Load theo thông thường.

Một cách luyện nghe VOA hiệu quả nữa là bạn nên tải thanh công cụ của TheFreeDictionary và nghe VOA như radio, đặc biệt với thanh công cụ này bạn còn nghe được bản tin VOA 5h30, BBC,.. 

Xem thêm bài Cách vào Facebook khi bị chặn