Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế vi mô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế vi mô. Hiển thị tất cả bài đăng

Thị trường cạnh tranh hoàn toàn hầu như chỉ là một hình mẫu, không có thực đối với các nền kinh tế cạnh tranh hiện nay. Tuy nhiên nó là một cơ sở quan trọng, được sử dụng rộng rãi trong việc phân tích tính hiệu quả trong các điều kiện hạn chế nhất định, sự phân bố hiệu quả cao nhất các nguồn tài nguyên hạn chế của xã hội.

Cạnh tranh hoàn toàn là một mô hỉnh kinh tế về thị trường mang đặc tính là mỗi đơn vị kinh tế chỉ là rất nhỏ, đến nỗi nó không thể tác động được đến giá cả, hoặc sự tác động đó là không chủ ý. Sản phẩm được sản xuất ra là đồng nhất, có thể thay thế được hoàn toàn. Các doanh nghiệp có thể tự do tham gia và rời bỏ một cách dễ dàng.

Thu nhập biên của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh hoàn toàn là giá của hàng hóa được bán ra và được thị trường chấp nhận tại mỗi số lượng hàng hóa bán ra.
Một sự thay đổi về mức bán ra trong một thời kỳ sẽ làm thay đổi tổng thu nhập của doanh nghiệp, nhưng không làm ảnh hưởng đến giá cả thị trường. Mối quan hệ giữa nhu cầu của riêng từng doanh nghiệp và giá cả được thị trường chấp nhận được minh họa ở hình bên dưới.

Q
P
TR
MR
1
4
4
4
2
4
8
4
3
4
12
4
4
4
16
4

Trong cạnh tranh hoàn toàn, đường cầu đối với doanh nghiệp nằm nganh là do:
§  Các sản phẩm của các hãng trong ngành đều có thể thay thế được cho nhau.
§  Quy mô của hãng là nhỏ, vì vậy không tác động được đến giá cả thị trường, mặc dù sản lượng có thể tăng lên hoặc giảm xuống.
Ví dụ: giá cả của thị trường chấp nhận là $4 / đơn vị.
thu nhập biên trên mỗi đơn vị là $4.
Vì thế đồ thị thu nhập biên và đồ thị nhu cầu là một đường nằm ngang ở mức giá $4.
Hãng sẽ không có lý do nào để tăng hoặc giảm giá:
+       Nếu tăng giá: sẽ bị các hãng khác thay thế.
+       Nếu giảm giá: lợi nhuận giảm đi.

Theo TS. Nguyễn Thuấn (2005). Kinh tế công cộng. Nhà xuất bản Thống Kê.

Kinh tế học : Đặc điểm của một thị trường cạnh tranh hoàn toàn là gì?

Trước hết cần phân biệt tính bất định và rủi ro theo quan điểm của Frank Knight đề xuất cách đây khoảng 60 năm.
Tính bất định là muốn nói đến những tình huống trong đó có khả năng xảy ra nhiều kết cục khác nhau nhưng xác suất xuất hiện các kết cục đó không xác định được. Còn rủi ro ám chỉ những tình huống trong đó chúng ta có thể nêu ra tất cả những kết cục có thể có và biết xác suất xảy ra của mỗi kết cục.

Con người ta mong muốn gánh chịu rủi ro ở những mức độ khác nhau. Một số người ghét rủi ro, số khác thích mạo hiểm, và những người khác thì trung lập. Nếu một người thích có một mức thu nhập nhất định cho trước hơn là một công việc rủi ro có thu nhập kỳ vọng như nhau, thì người đó được coi là người ghét rủi ro (một người như vậy sẽ có độ thỏa dụng biên theo thu nhập giảm dần).


 Ghét rủi ro là thái độ phổ biến nhất đối với rủi ro. Để thấy được mọi người trong mọi lúc đều ghét rủi ro, cần lưu ý rằng, người ta thường mua bảo hiểm để đề phòng hàng loạt các kiểu rủi ro. Và hầu hết mọi người không chỉ mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm ôtô, mà còn tìm những nghề nghiệp có đồng lương tương đối ổn định.

Theo Robert S. Pindyck, Daniel L. Rubinfeld.
Kinh tế học vi mô
. Bản dịch tiếng Việt. Nhà xuất bản Thống kê.

Kinh tế học : Người ghét rủi ro là người như thế nào?
Hơn hai thế kỉ trước đây, trong tác phẩm Sự giàu có của các quốc gia, Adam Smith đã đưa ra nghịch lý về giá trị (paradox of value). Ông viết, “Không có gì hữu hình bằng nước; nhưng nó chẳng làm giảm lượng mua sắm của bất kì thứ gì, trái lại, kim cương có rất ít giá trị sử dụng; nhưng phải mất một lượng lớn nhiều hàng hóa khác mới may ra đổi được lấy nó”.
Nói cách khác, tại sao một thứ rất cần thiết cho cuộc sống như nước lại có rất ít giá trị, trong khi, kim cương vốn thường chỉ được dùng làm đồ trang sức lại đòi một mức giá quá đáng như vậy?



Nghịch lý này đã làm bận lòng Adam Smith 200 năm trước đây. Ngày nay, chúng ta biết cách giải quyết nghịch lý đó như sau: đường cung và cầu đối với nước cắt nhau ở mức giá rất thấp, trong khi cung và cầu về kim cương lại có mức giá cân bằng rất cao. Trả lời như vậy xong, tất nhiên lại đi đến một câu hỏi khác: “Nhưng tại sao cung và cầu về nước lại cắt nhau ở mức giá thấp đến thế?” Câu trả lời là kim cương là một thứ rất khan hiếm và chi phí để tìm thêm một mẫu kim cương nữa rất cao, trong khi nước tương đối phong phú hơn và ở nhiều nơi trên thế giới, nó chỉ tốn rất ít tiền.

Nhưng câu trả lời này về việc hình thành chi phí phù hợp vẫn chưa giải đáp được một sự thật không kém phần quan trọng, đó là, nước trên thế giới rõ ràng hữu ích hơn nhiều so với nguồn cung về kim cương của thế giới. Để giải quyết điều đó, khi xét đến chi phí, chúng ta phải tính đến một sự thật thứ hai: xét về tổng thể, độ thỏa dụng (còn được gọi là độ hữu dụng Utility) của nước không quyết định đến giá hoặc cầu về nó. Trái lại, giá của nước do độ thỏa dụng biên (Marginal Utility) của nó, tức là độ hữu ích của cốc nước cuối cùng, quyết định.

Vì có quá nhiều nước, cốc nước cuối cùng có giá rất thấp. Mặc dù những giọt nước đầu tiên đáng giá cả cuộc sống, những giọt nước cuối cùng lại chỉ dùng để tưới cây cỏ hay rửa xe. Vì thế chúng ta thấy rằng một hàng hóa hết sức quý báu như nước lại có giá trị gần như bằng không vì giá trị của giọt nước cuối cùng gần như bằng không.

Giống như một sinh viên đã phát triển: lý thuyết về giá trị kinh tế rất dễ hiểu nếu bạn chỉ cần nhớ rằng trong kinh tế học cái chi tiết quyết định cái tổng thể. Chính là độ thỏa dụng biên quyết định giá và lượng.

Chúng ta có thể giải quyết nghịch lý về giá trị như sau: một hàng hóa càng có nhiều thì mức độ mong muốn đối với đơn vị cuối cùng của hàng hóa đó càng ít. Vì thế thật rõ ràng là tại sao một lượng lớn nước có giá rất thấp, và tại sao những thứ cần thiết cho sự sống còn, như không khí lại là thứ cho không. Trong cả hai trường hợp, một khối lượng lớn đã đẩy độ thỏa dụng biên xuống rất thấp và do đó, làm giảm giá của những thứ sống còn này.

Theo Paul A Samuelson, Wiliam D. Nordhalls (1948), Kinh tế học, Nhà xuất bản tài chính, tái bản lần 1 (2007)
Kinh tế học : Hai kỹ thuật phân tích tìm cái tối ưu và tìm sự cân bằng

Ảnh lấy từ: http://tutor2u.net/economics/content/diagrams/pricing3.gif

Khi học kinh tế vi mô, bạn thường hay nghe nhắc đến TP, TC, AP, AC, MU, MP,... Ý nghĩa của sự vận dụng chúng là gì?
Kinh tế học dùng hai kỹ thuật phân tích quan trọng: (1) tìm cái tối ưu và (2) tìm một sự cân bằng. Đứng trước bất kỳ một vấn đề nào, trước hết bạn phải trả lời câu hỏi: “Liệu đó là vấn đề tối ưu hóa hay vấn đề tìm cân bằng?”
Làm sao phân biệt được 2 vấn đề này? Hãy nhìn vào bảng sau:

Vấn đề tối ưu hóa
Vấn đề cân bằng
Liệu tôi nên mua một chiếc xe hơi mới hay nên dùng xe cũ một thời gian nữa?
Liệu sang năm tới, giá xe hơi mới có chắc là thấp hơn không?
Liệu tôi sẽ làm việc sung sướng hơn hay sẽ phải bỏ cuộc chơi và sống bằng của bố thí?
Liệu trợ cấp phúc lợi cho người thất nghiệp cao có làm tăng tỷ lệ thất nghiệp lên không?
Tôi nên mua một căn hộ riêng hay nên sống trong một căn hộ thuê?
Cái gì quy định tỷ lệ giữa tiền thuê hàng năm một căn hộ với giá mua hẳn căn hộ đó?
Không biết luật chống ma túy nên nghiêm khắc hơn hay nên khoan dung hơn?
Nếu dùng ma túy không bị buộc tội thì việc dùng ma túy có tăng lên không?
Liệu công đoàn của ta nên tiếp tục đình công hay tốt hơn hết là chấp nhận lời đề nghị của chủ?
Đình công có làm tăng lương công nhân không?

Ta nhận thấy rằng các vấn đề tối ưu hóa có dạng sau: “Làm điều này hoặc làm điều kia, điều nào sẽ tốt hơn cho tôi (hoặc cho doanh nghiệp của tôi, cho đất nước, thậm chí cho cả loài người)?”. Nói ngắn gọn lại là: hành vi nào tốt nhất? Loại thứ hai, tức là các vấn đề cân bằng, lại là câu hỏi: “Cái gì lý giải cho sự kiện mà ta quan sát thấy? Nói cụ thể hơn, cái gì lý giải cho mức giá và số liệu hàng hóa mua bán trên thị trường?”

Có thể bắt gặp các vấn đề tối ưu hóa trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Mọi người kỹ sư phải cân nhắc xem chất liệu titan có tốt hơn thép không gỉ để làm một ăngten không, một ông tướng phải quyết định xem liệu nên tấn công hay phòng ngự, và một ông thầy thuốc lại phải cân nhắc xem nên kê đơn kháng sinh hay cho thuốc an thần. Kinh tế học có cả một hệ thống các cách phân tích những vấn đề tối ưu hóa, đủ căn cứ cho bất kỳ lĩnh vực áp dụng nào.

Khi giải quyết các vấn đề cân bằng, chủ yếu là phải hiểu rõ sự tác động lẫn nhau giữa hành vi của một cá nhân hay một hãng này với quyết định của một cá nhân hay hãng khác. Khi tiên đoán liệu việc đình công có làm tăng tiền lương hay không, chúng ta bắt buộc phải xét chẳng những đến các yêu sách của công nhân, mà còn xét đến cả sự phản bác của giời chủ, cùng với việc khách hàng của hãng có thể dễ dàng quay sang mua một sản phẩm cạnh tranh,v.v..

Mỗi một kỹ thuật nói trên sử dụng một công cụ nghiên cứu đặc trưng. Phân tích các vấn đề tối ưu hóa đòi hỏi phải hiểu biết các mối tương quan giữa các đại lượng tổng thể, bình quân và cận biên. Kỹ thuật cơ bản dùng để giải quyết các vấn đề cân bằng là phân tích cung - cầu.